Pháp thông qua luật cấm cha mẹ dạy con bằng ‘đét đít’

Pháp thông qua luật cấm cha mẹ dạy con bằng ‘đét đít’,

Pháp thông qua luật cấm cha mẹ dạy con bằng ‘đét đít’ - Ảnh 1.

Ảnh (minh họa): iStock

Dự luật được thông qua với 51 phiếu thuận, 3 phiếu trắng và chỉ có 1 phiếu chống.

Mặc dù đã được thông qua tại hạ viện và gần như chắc chắn sẽ được phê chuẩn tại thượng viện, song vì luật không có chế tài đi kèm trong các trường hợp vi phạm nên nhiều ý kiến trong công luận Pháp nghi ngờ về tính hiệu quả thực sự cũng như tác dụng thay đổi hành vi giáo dục của cha mẹ.

Tuy nhiên với việc phê chuẩn luật này, luật dân sự Pháp cũng sẽ phải thay đổi để có thêm nội dung yêu cầu các bậc cha mẹ không được phép sử dụng các hình thức bạo lực thân thể, ngôn ngữ hay tâm lý, cũng như không được sử dụng các hình thức trừng phạt thân thể hay nhục mạ trong quá trình giáo dục con em họ.

Trước đây, theo những quyền hạn được quy định vào đầu những năm 1800 dưới thời Napoleon, cha mẹ Pháp có quyền được trừng phạt thân thể với con cái.

Dự luật cấm đánh đập con cái trong khi dạy dỗ này được Bộ trưởng bình đẳng giới của Pháp, bà Marlene Schiappa, đệ trình.

Trao đổi với báo Le Parisien, bà Marlene Schiappa cho rằng các bậc phụ huynh đã sai lầm khi tin rằng việc chửi mắng, đét đít hay véo tai con là cách thích hợp để khẳng định quyền lực. “Không bạo lực nào mang tính giáo dục cả”, bà nói.

Bà Schiappa đã nhận được sự ủng hộ của các đảng phái khác nhau khi đệ trình dự luật.

“Giáo dục thông qua bạo lực chỉ có thể tạo ra thêm bạo lực trong xã hội”, nghị sĩ Maud Petit của đảng Phong trào Dân chủ (MoDem) nêu quan điểm đồng tình. “Nó cũng sẽ dẫn đến thất bại trong nhà trường, dẫn đến bệnh tật, tự tử, hành vi chống đối xã hội và phạm tội”.

Báo Independent (Anh) dẫn kết quả nghiên cứu của tổ chức phi lợi nhuận Childhood Foundation của Pháp cho biết khoảng 85% phụ huynh nước này đã dùng hình thức trừng phạt thân thể với con họ trong năm nay.

Dạy cho con tiếng nói thật thàDạy cho con tiếng nói thật thà

TTO – Chuyến phiêu lưu của các “chiến binh samurai” Nhật Bản đã chấm dứt sau thất bại đầy cay đắng 2-3 trước tuyển Bỉ rạng sáng 3-7.

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Pháp thông qua luật cấm cha mẹ dạy con bằng ‘đét đít’

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/phap-thong-qua-luat-cam-cha-me-day-con-bang-det-dit-20181201111210152.htm

Đã có 12 trường ĐH khởi động chương trình Hult Prize

Đã có 12 trường ĐH khởi động chương trình Hult Prize,

Đã có 12 trường ĐH khởi động chương trình Hult Prize - Ảnh 1.

Sinh viên tham gia khóa khởi nghiệp cấp tốc tại London – Ảnh: HULT

Tính đến hiện tại đã có 12 trường ĐH khởi động chương trình này như ĐH Tôn Đức Thắng, ĐH Kinh tế – luật, ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM), ĐH Ngoại thương, ĐH Kinh tế TP.HCM, ĐH RMIT… Trước ngày 21-1-2019, mỗi trường tổ chức vòng loại, chọn ra tối đa hai đội tham gia vòng chung kết khu vực.

Điểm mới trong năm nay là mỗi khu vực (trong số 25 khu vực) chọn 3 đội đại diện đến London học tập trong 8 tuần ở lâu đài Ashridge về tăng tốc khởi nghiệp. Mỗi khu vực còn lại chọn một đội tốt nhất vào vòng chung kết toàn cầu tại New York diễn ra vào tháng 9-2019.

Hợp tác với hơn 1.200 trường ĐH trên toàn cầu, giải thưởng kêu gọi sáng kiến khởi nghiệp từ sinh viên, thạc sĩ, tiến sĩ, cựu sinh viên để giải quyết vấn đề việc làm cho thanh niên trong 10 năm tới bằng các mô hình kinh doanh xã hội. 

Mỗi năm, giải thưởng trao 1 triệu USD cho dự án xuất sắc nhất. Đây là giải thưởng thường niên do Liên Hiệp Quốc và cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton bảo trợ cùng Hult International Business School.

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Đã có 12 trường ĐH khởi động chương trình Hult Prize

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/da-co-12-truong-dh-khoi-dong-chuong-trinh-hult-prize-20181201111702377.htm

‘Vẽ đường’ cho học sinh xài smartphone, iPad nổi không, hay cứ cấm?

‘Vẽ đường’ cho học sinh xài smartphone, iPad nổi không, hay cứ cấm?

,

Vẽ đường cho học sinh xài smartphone, iPad nổi không, hay cứ cấm? - Ảnh 1.

Nhiều trẻ em ở Việt Nam được tiếp xúc với smartphone, Ipad từ nhỏ – Ảnh: QUANG ĐỊNH

Đây là tâm sự của một học sinh lớp 10 trường điểm tại TP.HCM. Học sinh này cho biết bạn bè em thường lạm dụng smartphone và Ipad quá mức mà không ý thức được tác hại của nó.

“Lúc nào các bạn cũng phải có smartphone bên mình. Ngoài giờ học, các bạn xài smartphone mọi lúc mọi nơi, ngay cả khi ăn hay đi vệ sinh, có bạn học bài cũng kè kè smartphone”- học sinh này nói.

“Thả” con ngay từ nhỏ

Huỳnh Ngọc Kathy đang học lớp 12 tại quận Phú Nhuận, TP.HCM. 3 em trai của Kathy, một bé học lớp 7, một bé lớp 1 và bé út vừa tròn 1 tuổi.

Ba mẹ Kathy hầu như “thả” các con trong thế giới smartphone và iPad. Mỗi lần bé út ăn, ba mẹ đều lấy iPad ra dụ bé.

Còn bé lớp 7 thích chơi game, cứ vừa đi học về là mở iPad chơi game. Bé lớp 1 cũng hay coi Youtube và chơi game linh tinh trên máy. Nếu không có máy chơi hoặc máy hết pin, bé sẽ đòi cho bằng được, nếu không bé sẽ ăn vạ, đập phá đồ chơi.

“Hồi nhỏ mỗi lần bé ăn là ba mẹ hay đưa iPad để dụ bé ăn. Sợ bé đi lung tung phá phách và cũng không có thời gian chăm nên ba mẹ cứ đưa iPad cho bé để bé ngồi yên. Riết rồi thành thói quen khó bỏ tới giờ luôn” – Kathy chia sẻ.

Ba mẹ em cũng không đặt ra quy định sử dụng thiết bị điện tử với các em nên các em mặc sức sử dụng.

“Trước đây, ba mẹ còn có quy định tịch thu điện thoại lúc 22h đêm, nhưng dần không còn nữa. Đôi lúc ba mẹ có nhắc nhở khi thấy tụi nhỏ chơi quá nhiều nhưng kiểu nhắc cho có” – Kathy nói.

Vẽ đường cho học sinh xài smartphone, iPad nổi không, hay cứ cấm? - Ảnh 2.

Hình ảnh thường gặp của trẻ em hiện nay: ngồi với nhau nhưng không trò chuyện mà mỗi em một máy – Ảnh: QUANG ĐỊNH

Trường học nơi cấm nơi không

Tại trường Kathy đang theo học, nhà trường quy định không được dùng điện thoại, iPad hay máy tính trong giờ học (trừ những giờ học đổi mới, ứng dụng công nghệ thông tin), còn giờ ra chơi và nghỉ trưa học sinh dùng bình thường. 

Nếu bị phát hiện dùng thiết bị điện tử trong giờ học, học sinh sẽ bị hạ hạnh kiểm và tịch thu thiết bị, đến khi nào phụ huynh gửi giấy cam kết mới được nhận lại.

Thế là học sinh tranh thủ giờ ra chơi để xài smartphone, chơi game. Có em bỏ ăn sáng, em thì giờ nghỉ trưa ngồi hành lang chơi game tới tận chiều đi học… Nhiều em dù đã vào tiết vẫn lén chơi. Giáo viên dễ tính chỉ nhắc nhở hoặc cho qua, giáo viên khó tính thì tịch thu SIM, pin điện thoại hoặc đưa xuống giám thị.

Một nữ sinh THCS thì cho biết trường em có nội quy khắt khe hơn: học sinh không được mang điện thoại, iPad, máy tính đi học. Nếu vi phạm sẽ bị tịch thu máy đến hết học kỳ. Nhà trường cũng thường xuyên kiểm tra đột xuất các lớp học.

“Thầy cô em thỉnh thoảng có nói qua về việc dùng điện thoại, iPad chứ không hướng dẫn sử dụng như thế nào. Chỉ khuyên sử dụng ít lại và tránh lạm dụng thôi” – nữ sinh này chia sẻ.

“Em mong nhà trường có định hướng và hướng dẫn cụ thể việc sử dụng smartphone, iPad cho chúng em, như sử dụng như thế nào thì hiệu quả vì có những tiết học ứng dụng công nghệ thông tin chúng em cần thực hành. Nên giáo dục từ cấp THCS vì lúc này học sinh ý thức cao hơn mấy bé mầm non và tiểu học. 

Còn về phần mấy bé nhỏ, cần có sự quan tâm, giáo dục nghiêm túc từ gia đình. Em thấy phụ huynh là một trong những nguyên nhân lớn nhất khiến nhiều trẻ nghiện smartphone. Phụ huynh cần trang bị kiến thức cho chính mình, lựa chọn trò chơi trên thiết bị và giới hạn sử dụng cho trẻ” – Kathy nêu ý kiến.

Vẽ đường cho học sinh xài smartphone, iPad nổi không, hay cứ cấm? - Ảnh 3.

Trẻ em ở Việt Nam được tiếp xúc với smartphone, iPad từ nhỏ – Ảnh: QUANG ĐỊNH

Khó “vẽ đường” cho học sinh xài smartphone, iPad?

Theo một giáo viên giảng dạy lâu năm ở TP.HCM, hiện nay, hầu hết các trường công và trường tư đều cấm học sinh sử dụng smartphone và iPad trong trường.

Một số trường cấm nhưng không siết chặt, học sinh vẫn lén sử dụng. Một số trường lại thực hiện cực kỳ nghiêm khắc: học sinh chỉ được sử dụng laptop, iPad trong những tiết được yêu cầu (những tiết này đều được thông báo đến phụ huynh), sau tiết học đó học sinh sẽ phải tự bảo quản thiết bị và không được sử dụng tiếp tục trong những tiết học khác.

“Vì những giới hạn về cơ sở vật chất, điều kiện kinh tế nên không phải học sinh nào cũng có iPad và nhà trường cũng không có khả năng cung cấp iPad đầy đủ cho các em nên rất khó “vẽ đường” cho học trò sử dụng iPad trong các tiết học STEM hay trong giờ học như các nước phát triển” – giáo viên này cho biết.

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học,

‘Vẽ đường’ cho học sinh xài smartphone, iPad nổi không, hay cứ cấm?



Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/ve-duong-cho-hoc-sinh-xai-smartphone-ipad-noi-khong-hay-cu-cam-20181129214330873.htm

Đại học ở Việt Nam: Thành lập thì dễ, giải thể thì khó

Đại học ở Việt Nam: Thành lập thì dễ, giải thể thì khó,

Đại học ở Việt Nam: Thành lập thì dễ, giải thể thì khó - Ảnh 1.

Mô hình ĐH quốc gia với nhiều trường ĐH thành viên nếu có cơ chế hoạt động tốt sẽ bứt phá nhanh. Trong ảnh: khuôn viên ĐH Quốc gia TP.HCM tại Q.Thủ Đức, TP.HCM – Ảnh: QUANG ĐỊNH

Quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục theo tinh thần Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục đại học (ĐH) vừa được Quốc hội thông qua là nội dung đang được dư luận quan tâm, đặc biệt là xu thế sáp nhập các trường ĐH.

Ông Phạm Tất Thắng – phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội – trao đổi với Tuổi Trẻ:

– So với nhiều nước khác, số lượng trường ĐH nước ta hiện nay (trên 250 trường ĐH, chưa kể số trường thuộc khối công an, quân đội) lớn. Trong khi thực trạng đào tạo, quản lý trường ĐH còn có những bất cập, chất lượng đào tạo, đóng góp xã hội cũng còn hạn chế. Con số trên 200.000 sinh viên ra trường thất nghiệp cũng là điều đáng phải suy nghĩ.

Vì thế, việc đưa vào luật việc quy hoạch mạng lưới trường ĐH trong thời điểm hiện nay là cần thiết, nhằm tạo hành lang pháp lý để các trường ĐH có thể bứt phá phát triển hoặc sáp nhập một số trường ĐH tạo nên những ĐH mạnh.

Ở Việt Nam, cho thành lập thì dễ, nhưng giải thể thì khó, hầu như chưa có trường nào bị giải thể, nên càng cần phải kiểm soát chặt chẽ việc thành lập mới.

Ông Phạm Tất Thắng – Phó Chủ Nhiệm UB Văn Hoá, Giáo Dục, Thanh Thiếu Niên Và Nhi Đồng QH

Sáp nhập phải là nhu cầu tự thân

* Nhưng việc sáp nhập các trường nhỏ, trường yếu là vấn đề rất khó xét cả ở khía cạnh tâm lý xã hội và tính phức tạp do VN có nhiều loại hình trường, trực thuộc nhiều bộ, ngành khác nhau…

– Đúng là nhiều hình thức sở hữu, nhiều cơ quan quản lý đang là một rào cản, khiến thực hiện định hướng trong luật là bài toán khó khăn. Vì thế, như tôi đã nói, đưa định hướng này vào luật là để có cơ sở pháp lý thực hiện mà trước hết là thực hiện việc quy hoạch mạng lưới. 

Cần phải tính toán lại số lượng cơ sở đào tạo ở mỗi lĩnh vực, địa phương, địa bàn và theo nhu cầu nhân lực hiện tại và trong tương lai, từ đó xác định lộ trình quy hoạch mạng lưới trường ĐH như thế nào. Có thể tính toán quy hoạch theo vùng miền, theo năng lực các trường, theo lĩnh vực đào tạo gắn với nhu cầu nhân lực xã hội…

Đại học ở Việt Nam: Thành lập thì dễ, giải thể thì khó - Ảnh 3.

Khu ký túc xá của ĐH Quốc gia TP.HCM – Ảnh: QUANG ĐỊNH

* Trước đây từng có dự định quy hoạch mạng lưới ĐH theo chức năng đào tạo: ĐH nghiên cứu, ĐH ứng dụng và thực hành. Liệu việc quy hoạch sắp tới có nên đi theo hướng phân tầng này không?

– Việc này đã được đặt ra trong Luật giáo dục ĐH năm 2012. Mặc dù xu thế phân tầng này ở các nước khác đã làm, nhưng lại không khả thi do ở VN còn nặng tâm lý phải là ĐH nghiên cứu thì mới có vị thế, còn ĐH ứng dụng, thực hành vị thế thấp hơn, “kém sang trọng hơn”. Và trường nào cũng muốn trở thành ĐH nghiên cứu mà không muốn theo hướng ứng dụng, thực hành.

Vì thế, luật sửa đổi lần này không đặt ra việc phân tầng theo hướng đó mà chỉ phân loại để xác định các ĐH trọng điểm mà Nhà nước cần tập trung đầu tư, có cơ sở để thực hiện giao tự chủ. Dĩ nhiên các trường tự chủ vẫn có thể được Nhà nước đầu tư trên cơ sở chứng minh năng lực, chương trình, mục tiêu để Nhà nước đặt hàng thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, đào tạo.

* Nhưng nếu chỉ nhằm tạo cơ sở pháp lý mà không có quy định mang tính bắt buộc những trường không đủ điều kiện đứng độc lập phải sáp nhập thì sẽ không có nhiều trường thừa nhận mình yếu và tự nguyện sáp nhập, đồng nghĩa với việc luật khó khả thi?

– Mục tiêu lớn hơn khi đặt ra vấn đề này là xây dựng các ĐH mạnh. Trong đó có thể các trường ĐH phát triển theo hướng thành lập các trường ĐH trực thuộc hoặc sáp nhập các trường khác nhau thành ĐH đa ngành.

Tuy nhiên, việc sáp nhập này sẽ không thể thực hiện kiểu cơ học mang tính hành chính mà phải xem xét về tính phù hợp và quan trọng là nhu cầu tự thân của các trường. Ví như các trường thấy có cùng mục tiêu, định hướng, thấy mô hình tổ chức hiện tại là “cái áo chật”, việc sáp nhập có tương lai phát triển thì chủ động thỏa thuận với nhau và đề xuất với cơ quan quản lý. Và khi có luật rồi thì việc này sẽ thuận lợi hơn nhiều.

Đại học ở Việt Nam: Thành lập thì dễ, giải thể thì khó - Ảnh 4.

Năm 2017, Trường CĐ Tài chính – hải quan sáp nhập vào Trường ĐH Tài chính – marketing – Ảnh: QUANG ĐỊNH

Cơ chế thoáng hơn, hệ thống sẽ mạnh hơn

* Việc sáp nhập các trường ĐH nhỏ thành ĐH, tương tự như mô hình hai ĐH quốc gia có phải là việc rút ngắn con đường để xây dựng thương hiệu ĐH, hướng tới có tên trong các bảng xếp hạng trường ĐH?

– Thực tiễn ở hai ĐH quốc gia cũng chứng minh mô hình ĐH bao gồm nhiều trường ĐH thành viên, khi có cơ chế hoạt động tốt sẽ bứt phá nhanh. Cụ thể cả hai ĐH quốc gia hiện đã có tên trong bảng xếp hạng 1.000 ĐH tốt nhất thế giới, các dự án nghiên cứu có chất lượng, giải quyết những bài toán mang tính chất liên ngành, công bố quốc tế của các ĐH nhiều hơn. 

Khi tập hợp đủ nguồn lực về tài chính, chuyên môn, về con người thì các ĐH mới có thể hình thành các xu hướng nghiên cứu mới, giải các bài toán tổng quát, còn nếu đứng độc lập thì việc này sẽ khó thực hiện.

* Nhưng ở VN cũng có những ĐH vùng theo mô hình quản lý hai cấp, gồm nhiều trường thành viên không hoạt động hiệu quả. Thậm chí từng có ý kiến cho rằng cần giải tán mô hình ĐH vùng, có những trường thành viên của ĐH vùng muốn “thoát ly” vì vướng víu quá nhiều thứ không phát triển được?

– ĐH vùng cũng là mô hình quản lý hai cấp như ĐH quốc gia, nhưng còn thiếu cơ chế đặc thù về tự chủ và ưu tiên đầu tư. Thậm chí, ĐH vùng còn không được giao cơ chế cởi mở như trường ĐH độc lập đang triển khai tự chủ. Về quản lý như vậy là thiếu công bằng khiến ĐH vùng không có động lực để phát triển mà còn nảy sinh nhiều vấn đề bất ổn nội tại.

Với thực trạng hiện nay thì mô hình ĐH vùng đang tạo ra thêm một cấp quản lý mà không thực sự thúc đẩy được, có khi còn gây cản trở cho các trường ĐH thành viên phát triển. Trong việc thực hiện quy hoạch sắp tới, đây cũng là việc phải tính toán lại. Nếu duy trì mô hình này thì cần phải tạo ra cơ chế phù hợp hơn (giao quyền tự chủ và tập trung đầu tư).

Đại học ở Việt Nam: Thành lập thì dễ, giải thể thì khó - Ảnh 5.

Nguồn: Bộ GD&ĐT – Đồ họa: V.CƯỜNG

* Ở khối giáo dục nghề nghiệp, chủ trương sáp nhập các trường yếu để tạo nên các cơ sở đào tạo mạnh hơn đang được thực hiện quyết liệt. Nhưng một số địa phương lại vội vàng sáp nhập một cách ồ ạt, có thể gây nên hệ lụy. Điều này liệu có xảy ra đối với khối ĐH tiến hành sáp nhập theo quy hoạch sắp tới không?

– Giống như hệ thống giáo dục ĐH, số lượng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện cũng khá nhiều. Tuyển sinh ở nhiều trường còn khó khăn, chất lượng đào tạo cũng chưa cao. Vì vậy, việc tổ chức lại hệ thống – trong đó có phương án sáp nhập trường yếu, đầu tư bài bản với trường có chất lượng là việc làm cần thiết. 

Song trên thực tế, việc này chưa đạt được nhiều kết quả rõ nét. Còn ở một số địa phương đã tiến hành sáp nhập thì dường như chưa thể yên tâm vì việc sáp nhập có vẻ cố gắng đạt mục tiêu giảm đầu mối cơ học mà chưa tính toán thật kỹ.

Đó cũng là bài học thực tiễn để khi thực hiện sắp xếp lại hệ thống cần nghiên cứu kỹ, thận trọng và triển khai từng bước.

Không nên thành lập mới trường công

* Theo ông, trong thời gian chờ quy hoạch, có nên tiếp tục cho phép thành lập các trường ĐH mới không?

– Theo tôi thì tạm thời không nên thành lập mới các trường công lập. Vì xét về số lượng trường ĐH, các ngành ĐH tương ứng với nhu cầu nhân lực thì hiện nay chúng ta đã khá đủ. Có lẽ không có ngành nghề nào xã hội cần nhân lực mà các trường ĐH Việt Nam chưa đào tạo. Do đó, việc thành lập mới các trường ĐH công lập là chưa cần thiết. Nên chờ sau khi quy hoạch mạng lưới mới cân nhắc tiếp.

Đại học ở Việt Nam: Thành lập thì dễ, giải thể thì khó - Ảnh 7.

Nguồn: Bộ GD&ĐT – Đồ họa: V.CƯỜNG

Ông Nguyễn Hoàng Hiếu (phó vụ trưởng Vụ kế hoạch – tài chính, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp): Không thể làm ồ ạt, vội vàng

nguyenhoanghieu-1-12-1543592164895439711823

Việc quy hoạch, sắp xếp lại mạng lưới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp để hệ thống mạnh lên là điều tất yếu, nhưng cần được thực hiện thận trọng, khoa học, hiệu quả và có lộ trình cụ thể.

Hiện tại, cả nước có khoảng 1.900 cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Việc rà soát, sắp xếp nhằm định hướng phát triển các trường theo hướng chuẩn hóa và hiện đại, đồng thời quy hoạch theo hướng mở và linh hoạt.

Đó cũng là cách để khắc phục tình trạng dàn trải, trùng lắp về ngành đào tạo, loại bỏ những cơ sở hoạt động không hiệu quả.

Việc cần làm đầu tiên là phải xây dựng các tiêu chuẩn làm cơ sở cho quy hoạch: chuẩn các trường chất lượng cao, chuẩn các ngành, nghề đào tạo theo các cấp độ quốc tế, khu vực, quốc gia, chuẩn đầu ra… Từ đó sẽ có sự phân bổ hợp lý và hiệu quả các nguồn lực để hỗ trợ đầu tư cho các trường.

Còn lại, những trường có nhiều ngành nghề và lĩnh vực đào tạo trùng lắp với nhau có thể xem xét sáp nhập, những trường không đủ tiêu chuẩn phải kiên quyết loại bỏ theo hướng giải thể hoặc sáp nhập với trường khác.

Quan điểm của bộ là những trường cùng ngành nghề, cùng lĩnh vực có thể sắp xếp lại tổ chức và từng bước tự chủ. Những trường đang tự chủ hoặc cam kết tự chủ theo lộ trình thì có thể tiếp tục hoạt động bình thường, nhằm tránh những trường hợp làm ồ ạt, vội vàng.

NG.H. ghi

PGS.TS Nguyễn Văn Thư (hiệu trưởng Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM): Phải có chủ trương từ lãnh đạo cấp cao

nguyenvanthu-1-12-15435921854212016067274

Với thực tế của giáo dục ĐH Việt Nam hiện nay, tôi cho rằng cần sớm thúc đẩy việc sáp nhập các trường ĐH để có một ĐH mạnh, hoạt động hiệu quả. Một thực trạng dễ dàng nhìn thấy là đang có rất nhiều trường ĐH đào tạo nhiều lĩnh vực, ngành học giống nhau.

Đơn cử như tại TP.HCM đang có hai trường ĐH giao thông vận tải của hai bộ khác nhau (Bộ GTVT và Bộ GD-ĐT) đào tạo hầu hết các ngành học giống nhau. Như vậy là chồng chéo, bất hợp lý. Trong khi nếu thực hiện sáp nhập các trường lại với nhau sẽ có nguồn lực về cơ sở vật chất cũng như con người lớn mạnh hơn nhiều.

Tuy nhiên việc sáp nhập cũng có những trở ngại nhất định vì một số trường không muốn bị sáp nhập. Họ muốn có “lãnh địa” riêng, khi sáp nhập nhiều người sẽ mất chức, ảnh hưởng quyền lợi của họ.

Đặc biệt, rất nhiều trường đang trực thuộc các bộ ngành khác nhau, lại không thống nhất được với nhau nên sẽ khó khăn khi thực hiện việc sáp nhập. Như vậy, cần phải có chủ trương từ lãnh đạo cấp cao mới có thể làm được. Nếu để các bộ tự làm việc với nhau e rằng rất khó thực hiện.

PGS.TS Nguyễn Kim Hồng (nguyên hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm TP.HCM): Cần sắp xếp theo quy hoạch tổng thể cấp quốc gia

nguyenkimhong-15435922459751604954047

Theo tôi, việc sáp nhập, giải thể ĐH cũng như nhiều pháp nhân lĩnh vực khác nên coi là chuyện bình thường, nhất là nếu sự sáp nhập ấy mang lại lợi ích thiết thực.

Tôi nghĩ việc sắp xếp các ĐH theo một quy hoạch tổng thể cấp quốc gia để các ĐH mạnh hơn về nghiên cứu, giảng dạy cũng như cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy. Các ĐH yếu kém hơn có thể sáp nhập vào các ĐH có uy tín.

Đối với các ĐH tư, việc sáp nhập có thể do mua bán, hợp tác… để có tiềm lực cạnh tranh hơn.

TRẦN HUỲNH ghi

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Đại học ở Việt Nam: Thành lập thì dễ, giải thể thì khó

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/dai-hoc-o-viet-nam-thanh-lap-thi-de-giai-the-thi-kho-20181130224702012.htm

Học sinh Hà Nội hào hứng với cuộc thi “Khoa học tạo ra sự đổi mới”

Học sinh Hà Nội hào hứng với cuộc thi “Khoa học tạo ra sự đổi mới”,

GD&TĐ – Sáng 30/11, Sở GD&ĐT Hà Nội tổ chức lễ tổng kết cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học thành phố Hà Nội lần thứ 8 (HASEF 2018). Đây là cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh của địa phương có quy mô lớn nhất cả nước.

Với thông điệp “Khoa học để tạo ra sự đổi mới”, cuộc thi HASEF lần thứ 8 diễn ra từ ngày 28 đến 30/11 là cơ hội để học sinh Thủ đô giới thiệu những đề tài khoa học xuất sắc tới bạn bè, thầy cô và các nhà khoa học, chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực mà các em nghiên cứu.

Ông Lê Ngọc Quang- Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Hà Nội cho biết: Cuộc thi năm nay có thông điệp Khoa học để tạo ra sự đổi mới (Science for Creative Innovation) nhằm bắt nhịp với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng 4.0 và bối cảnh toàn ngành đang thực hiện công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục.

Việc tổ chức các cuộc thi khoa học kĩ thuật có tác dụng đến việc đổi mới dạy học trong nhà trường, góp phần hình thành tính năng động sáng tạo, khả năng vận dụng sáng tạo kiến thức lí thuyết vào thực tế của học sinh.

Đồng thời tiếp cận chương trình SGK mới theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất của người học, giúp giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục Hà Nội nói riêng khẳng định vị thế, hòa nhập sâu rộng vào các nền giáo dục tiên tiến, hiện đại trong khu vực và quốc tế.

Hoc sinh Ha Noi hao hung voi cuoc thi �SKhoa hoc tao ra su doi moi�

Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Hà Nội Lê Ngọc Quang trao giấy khen cho 13 đơn vị có thành tích xuất sắc trong hội thi

Hoc sinh Ha Noi hao hung voi cuoc thi �SKhoa hoc tao ra su doi moi�

Phó Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội Trần Xuân Hà trao giấy khen cho các học sinh có đề tài đoạt giải Nhất

Hoc sinh Ha Noi hao hung voi cuoc thi �SKhoa hoc tao ra su doi moi�

Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Hà Nội Lê Ngọc Quang trao giấy khen cho các học sinh có đề tài đoạt giải Nhì

Hoc sinh Ha Noi hao hung voi cuoc thi �SKhoa hoc tao ra su doi moi�

Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Hà Nội Phạm Xuân Tiến trao giấy khen cho các học sinh đoạt giải Ba

Hoc sinh Ha Noi hao hung voi cuoc thi �SKhoa hoc tao ra su doi moi�

Trưởng phòng GDPT (Sở GD&ĐT Hà Nội) Kiều Văn Minh trao giấy khen cho các học sinh đoạt giải Tư.

Cuộc thi chung khảo cấp thành phố quy tụ 91 đề tài, dự án nghiên cứu xuất sắc ở 16 lĩnh vực của 175 tác giả đến từ các trường THCS, THPT trên toàn thành phố. Trong đó, nhiều nhất là các đề tài tập trung ở 5 nhóm lĩnh vực về Khoa học vật lý và phần mềm (38 đề tài), Sinh học (22 đề tài), Hóa học (19 đề tài), Y sinh (12 đề tài), Khoa học xã hội (12 đề tài).

Nhiều đề tài, dự án có tính thực tiễn cao, thể hiện tinh thần sáng tạo đi đôi với trách nhiệm hướng về xã hội, con người và trách nhiệm công dân. Nhiều đề tài có tính thời sự như: Tác động nói xấu đám đông trên mạng xã hội; điện thoại thông minh và tương tác xã hội; điều khiển xe lăn bằng cảm biến điện cơ cho người khuyết tật; tiết kiệm năng lượng; giảm ô nhiễm môi trường; bảo tồn văn hóa dân gian.

Một số đề án có tính khoa học cao, thu thập, phân tích và sử dụng dữ liệu tốt, xây dựng và thử nghiệm hiệu quả, xác định mục tiêu kỹ thuật rõ ràng. Các em đã thể hiện được phong cách và phương pháp nghiên cứu khoa học, tự tin trong báo cáo và trả lời chất vấn của các nhà khoa học.

Kết quả, Ban giám khảo đã chọn ra 14 đề tài đoạt giải Nhất, 19 đề tài đoạt giải Nhì, 25 đề tài đoạt giải Ba và 31 đề tài đoạt giải Tư. Dựa vào kết quả của cuộc thi, Sở GD&ĐT Hà Nội cũng đã trao Giấy khen cho 13 tập thể có thành tích xuất sắc.

Giải Nhất của cuộc thi thuộc về học sinh các trường: THCS Chu Văn An (quận Tây Hồ), THCS Cầu Giấy (quận Cầu Giấy), THPT Kim Liên, THPT Lê Lợi, THPT Yên Hòa, THPT Đào Duy Từ, THPT Thăng Long, THPT Chu Văn An, THPT chuyên Nguyễn Huệ, THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam.

Vân Anh

VietBao.vn

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Học sinh Hà Nội hào hứng với cuộc thi “Khoa học tạo ra sự đổi mới”

Sưu Tầm: http://vietbao.vn/Giao-duc/Hoc-sinh-Ha-Noi-hao-hung-voi-cuoc-thi-Khoa-hoc-tao-ra-su-doi-moi/443967040/202/

Sài Gòn tuyệt đẹp qua những “bài văn lạ”

Sài Gòn tuyệt đẹp qua những “bài văn lạ”

,

Ra đề bài và yêu cầu cho học sinh, đến khi nhận lại thì “hú hồn” vì “tụi nhỏ bây giờ giỏi và sáng tạo quá”. 

Đó là tâm sự của cô giáo Trần Thị Quỳnh Anh, Trường THPT Trưng Vương, TPHCM.

Mới đây, khi học tới bài Văn thuyết minh, cô Quỳnh Anh “cao hứng bắt tụi nhỏ vác thân gầy ra phố đi bộ xem triển lãm Dấu ấn Pháp tại TP.HCM rồi chọn một địa điểm gây hứng thú nhất, sau đó thuyết minh về địa điểm đó nhưng phải bằng photobook (sách ảnh)”.

Đề bài cụ thể là “Thuyết minh về địa danh Sài Gòn xưa và nay”.

Cô giáo trẻ dí dỏm kể: “Không làm sợ cô bả cho 0 điểm nên óc sáng tạo của tụi nhỏ đã được khai thác tối đa, khổ thân, học văn mà vừa bị viết văn, vừa bị bắt chụp hình, vừa phải cắt cắt dán dán cho… vừa lòng cô”.

Và khi nhận lại “bài văn” của học sinh, cô giáo thực sự bị bất ngờ. 

Sai Gon tuyet dep qua nhung "bai van la"
Bài làm về Bưu điện thành phố
Sai Gon tuyet dep qua nhung "bai van la"
Bài làm về Chợ Bến Thành
Sai Gon tuyet dep qua nhung "bai van la"
 
Sai Gon tuyet dep qua nhung "bai van la"
 
Sai Gon tuyet dep qua nhung "bai van la"
Đây là bài làm về Nhà hát thành phố
Sai Gon tuyet dep qua nhung "bai van la"
 
Sai Gon tuyet dep qua nhung "bai van la"
 
Sai Gon tuyet dep qua nhung "bai van la"
 
Sai Gon tuyet dep qua nhung "bai van la"
 

 

Sai Gon tuyet dep qua nhung "bai van la"
 
Sai Gon tuyet dep qua nhung "bai van la"
 
Sai Gon tuyet dep qua nhung "bai van la"
 
Sai Gon tuyet dep qua nhung "bai van la"
 
Sai Gon tuyet dep qua nhung "bai van la"
 
Sai Gon tuyet dep qua nhung "bai van la"
 

Theo Quỳnh Anh, cô thấy văn thuyết minh thực sự rất cần thiết và thực tế. “Sau này tụi nhỏ lớn đụng cái gì cũng dính đến thuyết minh. Muốn người ta hiểu ý tưởng của mình phải biết cách thuyết minh, muốn giới thiệu sản phẩm gì đó cũng phải thuyết minh, bán trà sữa trân châu hột me cũng phải thuyết minh đủ loại món cho người ta mua, nhiều lắm…

Xem clip hành trình đi tìm hiểu của tụi nhỏ lại càng thú vị hơn. Chính các con chắc cũng tự học được nhiều điều và nhận ra Sài Gòn thật đẹp”.

Tâm sự với học trò, Quỳnh Anh bảo “cô “ác” vậy để các con biết Văn học cũng có giá trị thực tiễn, cũng gắn với đời lắm. Văn học không xa lạ mà văn học cũng gần gũi vậy thôi”.

Ngân Anh – Ảnh: Cô giáo Quỳnh Anh cung cấp

 

VietBao.vn

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học,

Sài Gòn tuyệt đẹp qua những “bài văn lạ”



Sưu Tầm: http://vietbao.vn/Giao-duc/Sai-Gon-tuyet-dep-qua-nhung-bai-van-la/590490985/202/

Phát triển năng lực học sinh qua hoạt động trải nghiệm

Phát triển năng lực học sinh qua hoạt động trải nghiệm,

GD&TĐ – Trải nghiệm là một yêu cầu quan trọng của dạy học/giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Chương trình giáo dục phổ thông mới cũng yêu cầu có các hoạt động trải nghiệm. Vì vậy, tìm ra những cách làm, hướng đi sáng tạo hiệu quả, phù hợp với thực tiễn từ giáo dục trải nghiệm là đòi hỏi tất yếu của các cơ sở giáo dục.

Phong phú mô hình

Tại Ninh Bình, ngành GD-ĐT tổ chức nhiều mô hình hoạt động trải nghiệm (HĐTN) trong nhà trường nhằm phát triển năng lực HS hiệu quả. Đáng nói những cách làm, kinh nghiệm từ triển khai hoàn toàn có thể nhân rộng ra nhiều địa phương khác.

Một số mô hình dạy học trải nghiệm phát triển năng lực HS có thể kể tới như: Câu lạc bộ Tiếng Anh; Giờ chào cờ lồng ghép dạy Tiếng Anh; Giờ sinh hoạt lớp theo chủ đề; Hoạt động trải nghiệm có ứng dụng công nghệ thực tế ảo; Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo chủ đề; Hoạt động trải nghiệm về khoa học kĩ thuật ứng dụng; Giáo dục hướng nghiệp cho HS trung học qua hoạt động ngoại khóa, tham quan thực tế tại cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh; Ứng dụng công nghệ thực tế ảo tăng cường trong tổ chức các hoạt động giáo dục tại thư viện và phát triển văn hóa đọc thư viện… đã được áp dụng vào thực tiễn.

Theo bà Vũ Thị Hồng Nga – Phó Trưởng phòng GDTrH – Sở GD&ĐT Ninh Bình: Mô hình HĐTN có ứng dụng công nghệ thực tế ảo sẽ giúp HS học tập các môn học dưới dạng HĐTN là chìa khóa thực hiện việc học đi đôi với hành, học qua làm, học cách giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống ngay trong trường lớp. Đây là phương pháp ưu việt cho sự phát triển năng lực sáng tạo, giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức, hình thành các kĩ năng, giá trị và phẩm chất của bản thân học sinh. Ứng dụng công nghệ thực tế ảo tăng cường trong tổ chức các hoạt động giáo dục trong các môn học…

Phat trien nang luc hoc sinh qua hoat dong trai nghiem
  • Trong giờ trải nghiệm tại Trường TH Nam Bình (Nam Trực, Nam Định)

Với mô hình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo chủ đề, thông qua các hoạt động sẽ củng cố và khắc sâu kiến thức của các môn học; mở rộng và nâng cao hiểu biết cho HS về các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm phong phú thêm vốn tri thức, kinh nghiệm hoạt động tập thể của HS; rèn luyện cho HS các kĩ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi như kĩ năng giao tiếp ứng xử có văn hóa, kĩ năng tổ chức quản lý và tham gia các hoạt động tập thể…

Còn ở mô hình HĐTN về khoa học kĩ thuật ứng dụng lại hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng của việc dạy học ở các nhà trường. Đặc biệt HS sẽ mạnh dạn vận dụng kiến thức, kĩ năng đã được ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống sản xuất, khoa học kĩ thuật, tạo ra những sản phẩm khoa học phục vụ học tập và nuôi dưỡng ý tưởng sáng tạo…

Không chỉ ở Ninh Bình, mô hình phát triển năng lực HS THPT thông qua HĐTN trong dạy học Vật lý tại Quảng Bình cũng là điểm sáng về đổi mới trong dạy và học. Nếu như với trải nghiệm vật chất, trên cơ sở các dụng cụ học tập rời rạc được trang bị ngay tại lớp, HS sẽ tiến hành lắp ráp, tự tạo các tình huống chuyển động của vật trao đổi thảo luận thực hiện các nhiệm vụ học tập đã đề ra, qua đó hình thành các năng lực cần thiết…

Thông qua thực nghiệm trải nghiệm, HS không những được hình thành năng lực tự chủ, năng lực hợp tác, năng lực tự giải quyết vấn đề mà còn phát triển được kĩ năng quan sát, kĩ năng phân tích, tổng hợp và kĩ năng trình bày kết quả hoạt động của mình.

Những trải nghiệm mô phỏng, có thể rèn luyện cho HS được kỹ năng quan sát, phân tích và đề xuất lựa chọn được các phương án xác định vận tốc của vật chuyển động, hình thành năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo…

Phat trien nang luc hoc sinh qua hoat dong trai nghiem
  • Ngoài giờ lên lớp HS cần được học tập ngoài thực tế. Ảnh: Thanh Long

Quan trọng là tìm ra đúng cách

Bà Vũ Thị Hồng Nga cho rằng, nội dung HĐTN thông qua các mô hình rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: Giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục KNS, giá trị sống, giáo dục nghệ thuật, thẩm mĩ, giáo dục thể chất, an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống HIV/AIDS…

Nội dung giáo dục của HĐTN thiết thực và gần gũi với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của HS, giúp các em vận dụng những hiểu biết của mình vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi.

HĐTN có thể tổ chức theo những quy mô khác nhau. Tùy nội dung và tính chất từng hoạt động mà sự tham gia của các lực lượng có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp; có thể là chủ trì hoặc phối hợp, có thể là những mặt khác nhau.

HĐTN không thể tách rời khỏi thực tiễn cuộc sống, không thể tách rời các hoạt động của con người, đặc biệt là điều kiện, hoàn cảnh mà con người được trải qua. HĐTN được coi là hoạt động GD khi mà dưới sự hướng dẫn của GV, từng cá nhân HS được tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của HS. 

Tuy nhiên, bà Vũ Thị Hồng Nga cũng chỉ ra, lâu nay các trường THPT trong cả nước nói chung, ở tỉnh Ninh Bình nói riêng vẫn thường tổ chức các HĐTN, chủ yếu là hoạt động ngoài giờ lên lớp nhưng hình thức chưa đa dạng; nội dung các HĐTN gắn với các môn học rất ít và chưa hiệu quả; thời gian tổ chức các hoạt động giáo dục nếu có thường vào các dịp lễ, tết… và cách thức tổ chức chủ yếu theo kinh nghiệm, chưa có những cơ sở lý thuyết, mô hình thực tiễn nào chỉ dẫn cụ thể những cách làm hiệu quả.

Ngoài ra, khi tổ chức các HĐTN ở trường phổ thông thường gặp phải những khó khăn về năng lực, kiến thức, kinh nghiệm của giáo viên và cán bộ quản lý về HĐTN; thói quen dạy – học của giáo viên và học sinh; các vấn đề khác về kinh phí, an toàn của HS khi tổ chức các HĐTN và chưa có mô hình HĐTN mẫu đã hoạt động có hiệu quả về học tập.

Ông Bùi Ngọc Nhân – Phó Trưởng phòng GDTrH (Sở GD&ĐT Quảng Bình) cũng khẳng định, HĐTN trong quá trình dạy học là cần thiết, giúp trang bị cho HS không những về kiến thức, niềm đam mê khoa học, mà còn hình thành phát triển các năng lực hết sức cần thiết cho HS đáp ứng yêu cầu mục tiêu giáo dục hiện nay. Tuy vậy, việc tổ chức các HĐTN cần phải tiến hành với tinh thần làm cho giáo dục gắn bó chặt chẽ hơn nữa với cuộc sống, và có thể tổ chức linh hoạt dưới nhiều hình thức khác nhau và diễn ra trong suốt quá trình dạy học.

Đức Trí

VietBao.vn

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Phát triển năng lực học sinh qua hoạt động trải nghiệm

Sưu Tầm: http://vietbao.vn/Giao-duc/Phat-trien-nang-luc-hoc-sinh-qua-hoat-dong-trai-nghiem/443966884/202/

Giải pháp nâng cao năng lực giáo viên

Giải pháp nâng cao năng lực giáo viên,

GD&TĐ – Là thành viên của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học giáo dục cấp quốc gia (MS: 16-20.ĐT.022), PGS.TS Trần Thị Minh Hằng – Học viện Quản lý Giáo dục cho rằng, giáo viên với công việc chính là dạy học và giáo dục; để thực hiện được nghề nghiệp chính của mình đòi hỏi họ phải có trình độ chuyên môn và kỹ năng hành nghề, gọi là nghiệp vụ sư phạm.

Bản chất của năng lực, nghiệp vụ sư phạm

Theo PGS.TS Trần Thị Minh Hằng, năng lực nghiệp vụ sư phạm (NVSP) phản ánh trình độ tay nghề của giáo viên. Năng lực này được hình thành trong quá trình đào tạo và hành nghề. Thực tế nhiều giáo viên có trình độ chuyên môn cao thể hiện qua hệ thống văn bằng, chứng chỉ, song kỹ năng thể hiện năng lực NVSP còn yếu, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục của ngành. Vấn đề đặt ra cần phát triển năng lực NVSP cho giáo viên để nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay.

Năng lực NVSP của giáo viên đã và đang được nhiều nghiên cứu quan tâm, vì năng lực NVSP là một trong những thành phần không thể thiếu trong cấu trúc năng lực của người giáo viên. Năng lực NVSP của giáo viên ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả đào tạo – sản phẩm của nhà trường.

Thực tế năng lực NVSP được hình thành ở mỗi giáo viên là do được đào tạo trong quá trình đào tạo ở đại học, cũng có thể được hình thành trong quá trình tự học của mỗi giảng viên. Song hiểu được năng lực NVSP, cấu trúc của năng lực và con đường bồi dưỡng để phát triển năng lực NVSP là vấn đề cần thiết đối với mỗi giáo viên hiện nay.

Theo PGS.TS Trần Thị Minh Hằng, có thể coi “Năng lực là những đặc điểm tâm lý cá biệt, tạo thành điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc tác động vào đối tượng lao động”. Khái niệm này coi năng lực là những đặc điểm tâm lý cá biệt trong một hoạt động cụ thể, tạo thành điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ tác động và đối tượng lao động.

Khi nói đến năng lực là khả năng đạt được kết quả trong hoạt động nào đó. Muốn hoạt động đạt hiệu quả thì cá nhân thực hiện hoạt động ấy phải có những phẩm chất tâm lý nhất định phù hợp với yêu cầu của hoạt động đó.

Giáo viên: Hình thành tri thức cho người học

Thực tế cho thấy, những người phát triển tâm lý bình thường nào cũng có khả năng tiếp thu một số kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo tối thiểu. Song trong những điều kiện như nhau thì những người khác nhau có thể tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đó với nhịp độ khác nhau.

Đặc biệt với một số hoạt động đặc thù như hoạt động văn học, nghệ thuật, thể thao chỉ có một số người có năng lực nhất định mới có thể đạt kết quả. Do đó, khi xét bản chất của năng lực, trước hết cần chú ý tới hai vấn đề: Thứ nhất là sự khác nhau giữa người này với người kia về hiệu quả hoạt động; thứ hai, năng lực tạo điều kiện cho việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo dễ dàng chứ không phải bản thân tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.

Bài viết được biên tập, lược dẫn từ bài “Phát triển năng lực nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên để nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay” của PGS.TS Trần Thị Minh Hằng, thành viên của nhóm đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục cấp quốc gia/16-20.ĐT.022. 

PGS.TS Trần Thị Minh Hằng phân tích, NVSP của giáo viên là cách thức tổ chức thực hiện hiệu quả hoạt động giảng dạy và giáo dục. Năng lực NVSP của giáo viên là khả năng vận dụng tổng hợp, kiến thức, kĩ năng sư phạm, thái độ của giáo viên sư phạm nhằm tổ chức thực hiện có hiệu quả hoạt động dạy học và giáo dục nghề nghiệp cho học sinh sư phạm theo yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ được giao.

NVSP của giáo viên phải thể hiện qua việc tổ chức thực hiện hoạt động nghề nghiệp của họ nhưng phải theo yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ được giao. Nghĩa là người giáo viên phải hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ của mình trong hoạt động nghề nghiệp, hiểu rõ những yêu cầu của lao động nghề nghiệp đặt ra (yêu cầu về phẩm chất, năng lực), từ đó có thể tổ chức thực hiện hoạt động giảng dạy và giáo dục nghề nghiệp cho sinh viên một cách phù hợp, đúng hướng.

Theo PGS.TS Trần Thị Minh Hằng, giáo viên không chỉ là người hình thành tri thức chuyên môn cho sinh viên mà còn là người đào tạo, rèn luyện học sinh trở thành những giáo viên tương lai. Chính vì vậy phát triển năng lực NVSP cho giáo viên là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.

Phát triển năng lực NVSP cho giáo viên trên cơ sở củng cố đạo đức nhà giáo đã đến lúc cần có nhận thức và sự vào cuộc không chỉ riêng của mỗi giáo viên mà của các nhà quản lý để thực hiện có kết quả đổi mới giáo dục hiện nay.

Giải pháp nâng cao NVSP cho giáo viên

Để phát triển năng lực NVSP cho giáo viên PGS.TS Trần Thị Minh Hằng đề xuất cần thực hiện đồng bộ một số biện pháp sau đây:

Một là, nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và GV về vị trí, tầm quan trọng và yêu cầu bồi dưỡng nâng cao năng lực NVSP cho giáo viên các cấp hiện nay. Mục tiêu là giải quyết thực trạng một số cán bộ quản lý chưa coi trọng đúng mức NVSP của giáo viên mà cho rằng giáo viên chỉ cần giỏi chuyên môn là có thể dạy tốt. Vì vậy, họ coi trọng bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên hơn là NVSP, trong khi năng lực NVSP của giáo viên còn nhiều hạn chế yếu kém.

Hai là, xác định những kỹ năng nghiệp vụ cơ bản giáo viên còn yếu kém cần được bồi dưỡng. Ở mỗi địa phương khác nhau, mỗi cơ sở giáo dục khác nhau, giáo viên thể hiện những năng lực NVSP ở mức độ khác nhau. Hiệu trưởng – những người đứng đầu nhà trường tiến hành khảo sát đánh giá phân loại giáo viên và xác định nhu cầu bồi dưỡng phát triển những năng lực NVSP cần thiết cho giáo viên.

Ba là, tạo động lực và xây dựng môi trường thuận lợi cho đội ngũ giáo viên tích cực tự bồi dưỡng năng lực NVSP. Đây là một trong những khâu quan trọng trong công tác quản lý. Nhà quản lý cần phải tạo ra và duy trì một môi trường mà ở đó mọi người làm việc cùng nhau với tinh thần phấn khởi, tự nguyện để hoàn thành mục tiêu chung của giáo dục. Các động lực là những yếu tố thúc đẩy cán bộ quản lý, GV thực hiện tốt nhiệm vụ trong bồi dưỡng để phát triển năng lực NVSP.

Bốn là, mỗi giáo viên phải tự bồi dưỡng năng lực NVSP trên cơ sở tự đánh giá năng lực NVSP của bản thân. Mỗi giáo viên phải là người có nhu cầu tự học, tự bồi dưỡng trên cơ sở tự xác định cho bản thân những năng lực NVSP cần bồi dưỡng. Thực tế hiện nay, mỗi giáo viên tương đối eo hẹp về thời gian, với khối lượng công việc thực hiện ở trường lớn, vì vậy nếu không tự giác, tự cố gắng thì không thể thực hiện được việc tự học và không thể phát triển được năng lực NVSP cho mình. Với sự phát triển của khoa học và công nghệ thông tin, việc học và tự học rất linh hoạt, đa dạng. Vì vậy, mỗi giáo viên tự xây dựng kế hoạch và xác định mục tiêu rèn luyện phát triển năng lực NVSP cho bản thân phù hợp với yêu cầu luôn nâng cao của ngành.

Quá trình phát triển năng lực NVSP giáo viên cần thực hiện một cách đồng bộ các biện pháp nêu trên. Mỗi biện pháp sẽ góp phần khắc phục những hạn chế, yếu kém về năng lực NVSP của giáo viên hiện nay, giáo viên và các nhà quản lý tự thay đổi nhận thức để có biện pháp hữu hiệu phát triển năng lực NVSP của giáo viên đáp ứng với yêu cầu giáo dục.

Tóm lại, NVSP và phát triển năng lực NVSP là năng lực đặc thù của giáo viên và thể hiện chất lượng của giáo viên. Năng lực này hình thành và phát triển trong quá trình đào tạo ở các trường sư phạm và trong quá trình thực hiện nghề.

Khi xã hội phát triển những năng lực NVSP đòi hỏi giáo viên ngày càng hoàn thiện và phát triển ở mức độ cao. Năng lực NVSP đòi hỏi giáo viên phải thường xuyên luyện tập, trau dồi và học hỏi lẫn nhau trong quá trình dạy học.

Thực tiễn các nhà lãnh đạo, quản lý mới chú trọng đến bồi dưỡng nâng cao kiến thức chuyên môn, tăng cường cập nhật tri thức trong chương trình dạy học, chưa chú trọng đúng mức đến nâng cao năng lực NVSP cho giáo viên. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng giáo dục các cấp chưa đáp ứng với yêu cầu đổi mới hiện nay.

Hải Phong (lược dẫn)

VietBao.vn

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Giải pháp nâng cao năng lực giáo viên

Sưu Tầm: http://vietbao.vn/Giao-duc/Giai-phap-nang-cao-nang-luc-giao-vien/443966902/202/

Động lực thúc đẩy sáng tạo

Động lực thúc đẩy sáng tạo,

GD&TĐ – Chủ đề “Sức mạnh Công nghệ số” của Giải thưởng Nhân tài đất Việt năm 2018, lĩnh vực CNTT với 318 sản phẩm dự thi với 3 hệ thống: Sản phẩm Ứng dụng Kết nối – Di động; Sản phẩm Khởi nghiệp; Sản phẩm Số triển vọng, cho thấy, tinh thần của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt là xu hướng chuyển đổi số đang lan rộng và khẳng định vai trò thiết yếu đối với thời đại.

Rất khắt khe khi Hội đồng Giám khảo quyết định không có giải Nhất vì chưa tìm thấy sản phẩm xứng đáng đứng đầu, nhưng những giải thưởng được trao cũng cho thấy những sáng tạo và giá trị đóng góp hết sức tích cực của mỗi sản phẩm.

Đó là giải Nhì cho đề tài: Giải pháp ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo chuyển đổi văn bản tiếng Việt sang giọng nói tự nhiên Vbee (VIETNAMESE TEXT TO SPEECH) – Công ty Cổ phần Dịch vụ và Giải pháp Xử lý Dữ liệu Vbee. Đây là giải pháp ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo, là dịch vụ đầu tiên tại thị trường Việt Nam được áp dụng thành công trí tuệ nhân tạo học máy vào ngôn ngữ tự nhiên tiếng Việt, cho phép chuyển đổi văn bản tiếng Việt sang giọng nói.

Với nhiều người yêu thích CNTT thì giấc mơ chuyển đổi văn bản tiếng Việt sang giọng nói là mong muốn từ rất lâu, nhưng hiện thực nó là cả một vấn đề. Nay giấc mơ đã thành hiện thực, đặt dấu mốc quan trọng cho thấy sức mạnh công nghệ số là không có giới hạn.

Giải Nhì thứ 2 là: Stringee – Nền tảng lập trình Voice, Video, SMS (Stringee – Communication APIs for Voice, Video, SMS) – Công ty Cổ phần Stringee. Đây là nền tảng lập trình Voice, Video, SMS (Stringee – Communication APIs for Voice, Video, SMS), là nền tảng liên lạc cung cấp APIs, thư viện lập trình giúp các doanh nghiệp, lập trình viên có thể nhanh chóng tích hợp tính năng gọi điện Voice/Video, nhắn tin trực tiếp vào trong ứng dụng, website của mình.

Trong giai đoạn bùng nổ về các đơn vị cung cấp dịch vụ hay bán lẻ trực tuyến, thì sự xuất hiện của các dịch vụ như nghe, gọi, chat, SMS… đang dần trở nên phổ biến và được các doanh nghiệp triển khai trên diện rộng. Ý tưởng kết hợp tất cả các dịch vụ này vào một nền tảng duy nhất đã thành công, sản phẩm ra mắt thị trường từ tháng 6/2018, đến nay nhận được sự tin dùng của nhiều doanh nghiệp và tập đoàn lớn. Một startup được xây dựng từ những bạn trẻ thể hiện quyết tâm vươn tới thắng lợi với tinh thần 4.0.

Công nghệ thông tin đang tiếp tục khẳng định vị thế quan trọng. Sức hấp dẫn của CNTT cũng là cầu nối đưa đến những thành công của nhiều bạn trẻ yêu thích lĩnh vực này. Thực tế cho thấy, không ít các sáng tạo gia đã mày mò “tự học thành tài”, có được những sản phẩm mang giá trị cao mà điểm đến là các sân chơi trí tuệ . Nuôi dưỡng đam mê có thể là những bạn học sinh, sinh viên và những kỹ sư công nghệ.

Như kỳ trao giải thưởng năm nay, theo Ban tổ chức lĩnh vực công nghệ thông tin có trên 1.000 thí sinh gửi tới 318 sản phẩm dự thi, Hội đồng Giám khảo đã tuyển chọn được 20 sản phẩm vào vòng chung khảo. Điều đáng nói, trong số những thí sinh dự thi có bạn chỉ mới 13 tuổi như thí sinh Vũ Hải Ngân, nhưng cũng có thí sinh rất cao tuổi là bác Đặng Văn Cơ 76 tuổi.

Có thể nói tinh thần của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 không chỉ năm nay mà nhiều năm qua đã và đang lan tỏa sâu rộng trong Giải thưởng Nhân tài đất Việt. Thành công của các giải thưởng cũng như giá trị thực tiễn mà các sản phẩm đem lại đã góp phần thúc đẩy năng lực sáng tạo, nâng cao uy tín thương hiệu Việt Nam không chỉ trong nước mà đã được thế giới công nhận, sử dụng và trao giải thưởng.

“Sức mạnh Công nghệ số” của Nhân tài đất Việt 2018 với mục tiêu hướng tới cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 một lần nữa cho thấy sức mạnh sáng tạo, cũng như hiệu quả ứng dụng thực tiễn của mỗi công trình đã và đang đáp ứng tốt nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Tâm An

VietBao.vn

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Động lực thúc đẩy sáng tạo

Sưu Tầm: http://vietbao.vn/Giao-duc/Dong-luc-thuc-day-sang-tao/443966891/202/

Băn khoăn về “Đề án Ngoại ngữ” ở Thanh Hóa

Băn khoăn về “Đề án Ngoại ngữ” ở Thanh Hóa,

GD&TĐ – Báo GD&TĐ nhận được phản ánh của một số giáo viên về việc Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) tỉnh Thanh Hóa chuẩn bị thực hiện Đề án Nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trên địa bàn tỉnh đến năm 2025.

Những băn khoăn của giáo viên

Trong đơn thư phản ánh, nhiều giáo viên (GV) cho rằng; Quyết định 3475/QĐ-UBND tỉnh Thanh Hóa ngày 17/9/2018 về việc: Phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trên địa bàn tỉnh đến năm 2025” và sau đó là Công văn 2603/SGD ĐT của Sở GD&ĐT Thanh Hóa ngày 18/10/2018, thông báo kế hoạch rà soát, kiểm tra đánh giá trình độ năng lực của đội ngũ GV tiếng Anh trên địa bàn toàn tỉnh. Đến ngày 5/11/2018, Sở GD&ĐT tiếp tục ban hành Công văn 2776/SGDĐT-GDTrH về việc kiểm tra, đánh giá trình độ năng lực đội ngũ GV tiếng Anh các cấp học trên địa bàn tỉnh, đã khiến không ít GV đang dạy môn học này có nhiều băn khoăn về những vấn đề liên quan.

Cụ thể, theo Quyết định 3475/QĐ-UBND tỉnh Thanh Hóa, sau khi rà soát tổng thể GV tiếng Anh toàn tỉnh, GV chưa đạt chuẩn sẽ phải đăng kí học bồi dưỡng, ôn thi và thi lấy chứng chỉ B2 (đối với GV cấp tiểu học và THCS) và C1 (đối với GV THPT). Việc rà soát khảo sát, bồi dưỡng ôn thi và dự thi đều được tỉnh lên kế hoạch dự chi kinh phí hàng tỷ đồng, tuy nhiên trong công văn của Sở GD&ĐT Thanh Hóa lại yêu cầu GV phải tự túc kinh phí.

Từ năm 2012 đến 2017, tỉnh Thanh Hóa đã bắt đầu đề án ngoại ngữ này, tiến hành khảo sát, cử GV đi học bồi dưỡng, thi lấy chứng chỉ và hiện nay vẫn đang có lớp ôn thi. Sau đó Sở GD&ĐT còn cử những GV đạt chuẩn đi học lớp phương pháp giáo dục. Vậy, tại sao lần này UBND tỉnh vẫn chỉ đạo Sở GD&ĐT yêu cầu tất cả các trường điều động toàn bộ GV tiếng Anh tiếp tục rà soát tổng thể, trong khi GV đã có chứng chỉ đạt chuẩn do Trường Đại học Quốc gia cấp? Liệu sau lần rà soát này, GV tiếng Anh trên địa bàn tỉnh còn phải tiếp tục rà soát nữa không?

Cũng theo đơn thư phản ánh, nhiều GV cho rằng, có nhiều tỉnh cũng thực hiện việc rà soát năng lực GV tiếng Anh. Tuy nhiên, ở những địa phương ấy, họ chỉ rà soát đối với những GV chưa đạt chuẩn, còn đối với GV đã có chứng chỉ công nhận chuẩn thì sẽ không phải rà soát nữa, tránh tốn kém chi phí cho Nhà nước không cần thiết, tránh mất thời gian để khỏi ảnh hưởng đến công việc dạy học bị gián đoạn và đặc biệt là tránh bức xúc đối với GV môn học này…

Sở chờ hướng dẫn từ Bộ

Sau khi nhận đơn thư phản ánh của GV, phóng viên Báo GD&TĐ đã trao đổi với lãnh đạo Sở GD&ĐT tỉnh Thanh Hóa xung quanh vấn đề này.

Bà Phạm Thị Hằng – Giám đốc Sở GD&ĐT Thanh Hóa – cho biết: Một thực trạng từ trước đến nay là chất lượng dạy và học môn tiếng Anh của tỉnh Thanh Hóa chưa phải là cao so với các tỉnh thành trên cả nước. Qua các đợt rà soát trước đây cho thấy, trình độ, năng lực của GV dạy tiếng Anh ở các trường học trong toàn tỉnh Thanh Hóa vẫn rất thấp.

Đặc biệt, số GV có trình độ ngoại ngữ ở Thanh Hóa có tới khoảng 50% là bằng tại chức, mặc dù cũng đã được kiểm tra, rà soát rồi nhưng chất lượng chung vẫn còn thấp. Do đó, Sở GD&ĐT rất trăn trở về vấn đề này, nên có tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng Đề án “Nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ”, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng môn học này. Vì vậy, Chủ tịch UBND tỉnh đã đồng ý và phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025”.

“Khi tiến hành thực hiện rà soát tổng thể đối với các GV đang dạy ngoại ngữ, thì tất cả GV tham gia đợt khảo sát, đánh giá trình độ, năng lực lần này đều không phải đóng phí. Toàn bộ kinh phí cho lần khảo sát này do UBND tỉnh chi từ ngân sách. Bên cạnh đó, việc thực hiện rà soát, kiểm tra, đánh giá trình độ, năng lực đối với GV tiếng Anh đợt này là để chốt lại lần cuối. Nếu GV nào chưa đạt trình độ chuẩn, thì tỉnh và Sở sẽ có hướng đào tạo thêm cho GV đạt chuẩn, chứ không phải là sẽ có hình thức xử lý nào đó như một số GV hiểu nhầm”- bà Hằng cho hay.

Cũng theo Giám đốc Sở GD&ĐT Thanh Hóa, sau khi Sở GD&ĐT ban hành công văn gửi về các Phòng GD&ĐT huyện, thị xã, thành phố và hiệu trưởng các trường THPT để triển khai thực hiện đề án thì có GV gửi đơn thư phản ánh cho Báo GD&TĐ. Do đó, để giải đáp những băn khoăn, thắc mắc cho GV hiểu rõ, yên tâm công tác, Sở GD&ĐT Thanh Hóa đã làm công văn gửi về Bộ GD&ĐT xin ý kiến hướng dẫn của Bộ để Sở thực hiện đề án.

“Để giải đáp những băn khoăn, thắc mắc của GV dạy Tiếng Anh, Sở GD&ĐT đang làm công văn gửi Bộ GD&ĐT hướng dẫn về việc: Những GV đã được bồi dưỡng và cấp chứng chỉ đạt chuẩn theo quy định rồi thì có thời gian là bao nhiêu năm. Nếu những trường hợp đó, mà không phải giới hạn về thời gian, thì Sở GD&ĐT sẽ báo cáo UBND tỉnh xem xét cho những GV đã qua bồi dưỡng, được cấp chứng chỉ đạt chuẩn rồi, thì có cần phải tham gia rà soát đợt này hay không. Tuy nhiên, đến thời điểm này Sở GD&ĐT Thanh Hóa vẫn đang chờ ý kiến, hướng dẫn từ Bộ GD&ĐT”- bà Phạm Thị Hằng cho biết thêm.

Hồng Đức

VietBao.vn

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Băn khoăn về “Đề án Ngoại ngữ” ở Thanh Hóa

Sưu Tầm: http://vietbao.vn/Giao-duc/Ban-khoan-ve-De-an-Ngoai-ngu-o-Thanh-Hoa/443966994/202/